Tưởng nhớ đến Tôn Giả Mục Kiền Liên – bậc Thanh Văn xuất sắc

Thế là một lần nữa trong năm, ACE chúng ta lại không thể cùng nhau quây quần bên Tổ đình Viên Giác để đón mừng ngày lể Vu Lan như mọi khi. Không gian và màu sắc của Lễ hội Quan Âm của các năm xưa lại quay trở về trong trí nhớ, thời khắc cảm động và sâu lắng của nghi lễ Vu Lan được nối tiếp bằng biểu tượng những đoá hoa màu đỏ thắm hay màu trắng tinh khôi cài lên ngực áo, như lời tri ơn sâu xa của những người con đến công ơn của cha mẹ, được đong đầy trong bản nhạc "Bông Hồng Cài Áo" và "Tâm Sự Loài Hoa Trắng".

Nhắc đến ngày Vu Lan, chúng ta không thể nào không nhắc đến gương đại hiếu của Đức Mục Kiền Liên, một trong mười vị đệ tử lớn xuất sắc của Đức Phật trong thời ngài còn tại thế.

Chính câu chuyện ngài dùng thần thông xuống địa ngục để cứu mẹ đã là sự kiện  khơi nguồn cho truyền thng  Vu Lan  vì chỉ có năng lực thâm dày của các bậc chân tu thạc đức mới đủ sức chuyển hoá những ác nghiệp mà mẹ của ngài đã gây ra. 

Chúng ta hàng Phật tử luôn được truyền cảm hứng từ tấm gương hiếu hạnh ấy. Nhưng đó chỉ mới là một khía cạnh trong con người của ngài. Hôm nay, nhân mùa Vu Lan về, để tưởng nhớ đến ngài - một bậc Thánh Tăng, người học trò xuất sắc và trung thành hết lòng hỗ trợ cho Đức Phật một cách  đắc lực và hữu hiệu trong việc lãnh đạo Tăng đoàn, hoằng dương chánh pháp, một người đến cuối đời đã vì đạo hy sinh - chúng ta hãy cùng nhau lùi về hơn 26 thế kỷ trước, để hình dung  ngài trước mặt như một con người bằng xương bằng thịt, với tất cả những hoài bảo và ước mơ, với tất cả những cảm xúc vui buồn lo lắng và ưu tư cho sự trường tồn của giáo pháp và sự thịnh suy của Tăng Đoàn.

Chúng ta sẽ thấy rằng, không chỉ là một tấm gương về sự hiếu hạnh, ngài còn là biểu tượng của một bậc A La Hán vĩ đại  cho chúng ta nhiều  bài học thật  sâu sắc và ý vị từ tính cánh và thái độ của ngài trong cuộc đời.

1.    Thuở thiếu thời:
Khi mới chào đời, Tôn giả đuợc đặt tên là Kolita Moggalla, thuộc dòng dõi Mudgala, một dòng dõi chuyên nghiên cứu Thiên văn học rất cổ. Nơi ngài sinh ra là một ngôi làng nhỏ gần vương quốc Ma Kiệt Đà (ngày nay thuộc tiểu bang Bihar Ấn độ). Ngôi làng này hầu như là  nơi cư ngụ của những đại tộc Bà La Môn. Cha của ngài thuộc một dòng họ danh giá, nơi đã lưu xuất ra nhiều chức sắc nắm giữ những chức vụ quan trọng trong làng. Như vậy, chúng ta có thể biết được rằng, thuở thiếu thời, ngài thuộc hàng „công tử“ con nhà giàu có và quyền quý.

Gia đình của chàng công tử giàu sang và quyền quý đó có tình thâm giao đặc biệt  với một gia đình ở ngôi làng bên cạnh, và cùng với năm Tôn Giả Mục Kiền Liên ra đời, gia đình đó cũng sinh ra một người con trai đặt tên là Upatissa. Sau này cậu bé đó chính là ngài Xá Lợi Phất.
Tình bạn giữa hai đứa trẻ  bắt nguồn từ mối thâm tình của hai gia đình và rồi tình bạn này đã cùng lớn theo năm tháng gắn bó cuộc đời hai ngài cho đến khi hai ngài xã bỏ thân Tứ Đại nhập vào Niết bàn tịch tĩnh.

2.    Người bạn cùng lý tưởng
Như nhân duyên từ kiếp nào, hai cậu bé thân thiết cùng nhau trải qua thời thơ ấu trong hạnh phúc nhung lụa cho đến khi bắt đầu bước vào tuổi trưởng thành. Cũng như bao chàng trai thuộc dòng dõi danh gia vọng tộc khác của xứ Ma Kiệt Đà- một vương quốc hùng mạnh và hưng thịnh về cả mọi mặt- cuộc đời mở ra dưới chân hai chàng thanh niên ấy bao nhiêu là hoa mộng đẹp đẽ của tuổi thanh xuân. Moggalla và Upatissa đã tận hưởng những ngày tháng đẹp đẽ đó với tất cả nhiệt thành của tuổi trẻ: Này là những cuộc đua ngựa đầy gây cấn, này là những cuộc thi bắn cung mà kẻ chiến thắng nhận về biết bao nhiêu hào quang của danh dự, này là những trò chơi thể thao rèn luyện thân thể đầy hào hứng, này là những lễ hội hàng năm với những màn trình diễn thật tuyệt vời của những nhạc công, vũ công tài ba. Nhưng vào một lần, đêm văn nghệ lễ hội chuyển sang màn kịch diễn tả những bi kịch sinh ly tử biệt giữa cuộc đời và những huyền thoại cứu rỗi trước đôi mắt của hai chàng trai trẻ. Bỗng dưng hai chàng cảm thấy như có những gáo nước lạnh dội thẳng vào mặt mình. Không ai nói vói ai, trở về từ màn kịch đêm ấy, mỗi người đều trằn trọc với bao nhiêu câu hỏi trong đầu:
Các cảnh tượng mà ta đã nhìn thấy ở hội chợ sẽ cho ta bài học gì? Có gì xứng đáng hơn để cho ta ngồi xem không? Cứ tiêu khiển như thế, ta sẽ thu thập lợi ích nào hay chỉ trong một thời gian nữa, chính những tài tử đầy quyến rũ kia sẽ già yếu. Họ sẽ trở thành chính những nhân vật trong bi kịch mà họ đã đóng. Rồi cái chết sẽ bắt họ từ giã cõi đời, và tiếp tục cuộc hành trình sanh diệt bất tận do lòng khát vọng của họ chủ động? Rồi chúng ta cũng thế! Những tài tử này không giúp nổi chính họ giải quyết vấn đề sanh tử thì hòng gì họ có thể thức tỉnh được ai tìm ra con đường giải thoát? Xem thế, chúng ta phí uổng thời gian mà thôi, thay vì phải tìm ra con đường giải thoát!”.
(Đoạn in nghiêng được trích nguyên văn từ tác phẩm „Cuộc đời của Tôn Giả Mục Kiền Liên- Tác giả  Hellmut Hecker 1923-2017, việt dịch Nguyễn Điều)


Vào buổi sáng hôm sau, đôi bạn trẻ cùng thổ lộ nỗi băn khăn trằn trọc của mình và mừng rỡ khi nhận ra, họ cùng có một chí hướng đi tìm một lẽ sống đích thực của cuộc đời bằng con đường tâm linh chứ không phải chỉ là những cuộc vui ngắn ngủi, tạm bợ. Với ý nghĩ đó, hai chàng thanh niên rũ bỏ tất cả tài sản của cải của mình để trở thành những người đạo sĩ du phương tầm thầy học đạo. Theo hai người đi trên con đường này còn có những chàng trai trẻ nằm trong đoàn tuỳ tùng trước đây cũng bị cuốn hút và thuyết phục về một con đường tâm linh như thế.

Cuộc du phương kéo dài ròng rã gần hai mươi năm, nhưng họ thực sự chưa hài lòng với những giáo lý mà họ học được từ những vị đạo sĩ nổi tiếng đương thời, điển hình như Đạo sĩ  „San Xa Da Tỳ La Lê Tử“ (Sanõjaya), một trong sáu phái Lục Sư ngoại đạo, thuộc trường phái „hoài nghi“ chủ trương chân lý có thể biến đổi, tu đạo là vô ích chỉ cần tu thiền định là giải thoát. Do vậy, hai ngài quyết định trở về cố hương sau bao nhiêu năm tầm đạo. Vẫn chưa từ bỏ hy vọng sẽ gặp được chân sư, hai người bạn hứa với nhau rằng, ai tìm ra minh sư trước sẽ cho người kia biết để cùng nhau tiến tu trên một con đường.

Thế rồi ngày đó đã đến…
Một ngày nọ, tại thành Vương Xá, Ngài Xá lợi Phất đã rúng động cả tâm tư khi được nghe bài kệ từ Tôn Giả A Xã Bệ Thệ , một trong năm vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật:
"Các Pháp do duyên sinh
Lại cũng do duyên diệt
Thầy tôi là Đức Phật
Thường giảng dạy như vậy"

Cuộc gặp gỡ này là một khúc quanh đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của ngài Xá Lợi Phất và sau đó là của ngài Mục Kiền Liên. Với guơng mặt rạng rỡ và trang nghiêm khác thường, ngài Xá Lợi Phất đã thuật lại cho ngài Mục Kiền Liên về cuộc gặp gỡ và bài kệ làm tuệ giác ngài bừng sáng. Sau đó, dĩ nhiên là hai ngài cùng với hàng trăm môn đệ của mình đã quy y với Đức Phật và gia nhập Tăng Đoàn.
Từ đây, Tăng đoàn của Đức Phật có thêm hai con người với năng lực phi thường, như con thuyền được giăng thêm những cánh buồm vững chắc trong chuyến hải hành bất tận.

3)       Con người của hành động
Trong mười vị đại đệ tử của Đức Phật, Tôn giả Mục Kiền Liên được mô tả như là một con người đầy cá tính, quyết đoán, táo bạo trong hành động và thẳng thắng trong ngôn từ. Ngài có hình dáng cao lớn, tai to, nét mặt luôn luôn lộ vẻ cương nghị, lạc quan, tính tình dũng cảm hào hiệp, lúc nào cũng vì chính nghĩa mà can thiệp những chuyện bất bình.

Khi nghe ngài Xá Lợi Phất thuật lại cuộc gặp gỡ với người đệ tử của Đức Phật và bài kệ vi diệu, Tôn Giả Mục Kiền Liên đã nôn nóng muốn được yết kiến Đức phật tại Tịnh xá Trúc Lâm ngay để xin xuất gia. Khi đó, Tôn Giả Xá Lợi Phất trầm tĩnh đề nghị:
"Này bạn! Trước tiên chúng ta nên đến gặp thầy Sanõjaya và thông báo cho ông biết chúng ta tìm ra đạo bất tử. Nếu thầy ấy hữu duyên, thầy cũng sẽ bước vào ánh sáng chơn lý như chúng ta. Đó là một cách chúng ta tỏ lòng biết ơn thầy đã một thời cho chúng ta học đạo. Còn nếu thầy chưa phát hiện cơ duyên thì thầy sẽ suy nghĩ lại, biết đâu sau này thầy sẽ nhờ chúng ta đưa đến ra mắt Đức Phật. Chừng đó khi nghe Pháp bảo nơi kim khẩu đấng Toàn giác, thầy sẽ chắc chắn chứng được đạo quả".
(Chữ in nghiêng được trích nguyên văn trong tác phẩm  „Cuộc đời tôn giả MỤC KIỀN LIÊN“ Hellmut Hecker-Việt dịch Nguyễn Điều)

Đoạn đối thoại này cho thấy phần nào sự khác biệt về tính cách của hai ngài. Dĩ nhiên, vì tự ái quá cao, Đạo sư Sanõjaya đã từ chối lời thưa thỉnh này.

Trong Tăng Đoàn của Đức Phật, nếu như ngài A Nan được Đức Phật xem như là người „Tàng trữ Pháp Bảo“ cho Tăng Đoàn, ngài Xá Lợi Phất là người đối ngoại bảo vệ phạm vi của Giáo hội thì ngài Mục Kiền Liên được xem như người đối nội duy trì nội an trong Tăng Đoàn.

Chúng ta còn nhớ người em chú bác của Đức Phật, Tôn Giả Đề Bà Đạt Đa. Tuy cũng theo Phật xuất gia, nhưng tâm của ông thì đầy dẫy những tham vọng và đố kỵ. Ông đã ngấm ngầm vận động một số tỳ Kheo non trẻ và nhẹ dạ ủng hộ những đề nghị cải cách của ông, trong đó có cả tham vọng thay Đức Phật lãnh đạo Tăng đoàn. Khi Đức Phật không đồng ý với những đề nghị đó, Đề Bà Đạt Đa tự mình dẫn theo những tỳ kheo bị ông dẫn dụ tách khỏi Tăng đoàn thành lập một Giáo hội mới dưới sự lãnh đạo của ông.  Trong lúc các đệ tử khác của Đức Phật lo lắng ưu tư về sự kiện này thì ngài Mục Kiền Liên cùng với ngài Xá Lợi Phất ngấm ngầm lên một kế hoạch: Hai vị sang đầu quân cho giáo đoàn của Đề Bà Đạt Đa! Mọi người đều xôn xao bàn tán:  ngay cả hai đệ tử xuất sắc nhất của Đức Phật cũng rời bỏ ngài mà đi sao?  Nhưng chỉ một tháng sau, hai ngài trở về lại Tăng Đoàn không phải là một mình mà là còn mang về hơn một nữa tỳ kheo của Đề Bà Đạ Đa đã hối đầu ăn năn quay trở về với  Đức Phật.

Được nhận lãnh trách nhiệm giám sát hạnh kiểm của các tỳ kheo, Tôn Giả Mục Kiền Liên cũng  rất nghiêm minh và thẳng thắng chỉ ra những lỗi lầm của vị đó dù thân thế của họ là ai. Chúng ta biết rằng trong  hàng tỳ kheo có rất nhiều vị xuất thân là vương tôn thế tộc.  Nhưng không vì vậy và ngài thiên vị hay cả nể người nào.

Như đã đề cập ở trên, Tôn Giả Mục Kiên Liên là mẫu người xông xáo, hầu như ngài không chịu bó tay trước một hoàn cảnh nào. Mỗi khi Tăng đoàn gặp khó khăn, ngài đều nhanh nhẹn đưa ra những giải pháp. Có rất nhiều những  đề nghị được Đức Phật chấp nhận, nhưng cũng có một đôi lúc Đức Phật đã không đồng ý. Có một năm vào mùa an cư, Đức Phật và Tăng  Đoàn dừng chân cư trú ở làng Vejanra. Không may, làng này lúc đó bị một cơn mất mùa lớn, và việc khất thực của Tăng Đoàn càng lúc càng trở nên khó khăn, chính Đức Phật đã có lúc phải mang bát không về. Lo lắng cho tình trạng này có thể kéo dài, Tôn giả Mục Kiền Liên đề nghị với Đức Phật là Tôn giả sẽ dùng thần thông mở một con đường dẫn đến khu vực Uttarakuru nằm khá xa ở miền Nam để Tăng Đoàn di cư về đó tiếp tục an cư vì nơi  đó không có nạn đói. Đức Phật không bằng lòng. Đức Phật khuyên ông rằng chính lúc này Tăng Đoàn nên cùng chia xẻ những khó khăn để cảm thông  với người dân ở đây. Khi nhìn thấy một vùng cây cỏ xanh tươi gần nơi an cư, Tôn giả liền thưa với Đức Phật cho phép ông xới đất nơi ấy lên, lấy phần đất mềm và bổ dưỡng ở dưới, hoà tan trong nước và dùng chất nước bổ dưỡng ấy cho Tăng Đoàn trong nạn đói này. Đức Phật cũng không đồng ý vì việc xới đất lên sẽ làm cho bao nhiêu sinh vật ẩn dưới lớp đất sẽ bị thiêu chết dưới sức nóng của mặt trời, và cả những loài cây cỏ khác  cũng bị tác hại lây.  Chúng ta thấy đó, Tôn giả luôn nhìn và giải quyết vấn đề theo hướng  cấp thiết  và thực dụng.

Việc Tôn giả  xử dụng thần thông để cứu lấy dòng họ Thích ca trong cuộc trả thù của nhà vua Tỳ Lưu ly cho thấy bản tánh „thấy việc bất bình phải ra tay“ của ngài. Đức Phật đã ba lần ngồi nơi đoàn quân đi qua, dùng lời nói, lý lẽ nói ôn tồn để ngăn cản hành động chiến tranh của nhà vua. Nhưng mối hận thù của vua Tỳ Lưu Ly quá lớn trong khi những người của dòng họ Thích Ca thì đã không có hành động nào để chuyển hoá những ác nghiệp của mình. Khi thời điểm chín mùi thì quả phải trổ. Đức Phật đã nhìn thấu điều ấy, nhưng Tôn giả Mục Kiền Liên vẫn không thể ngồi yên chịu bó tay và giải pháp của Tôn giả luôn là nhanh gọn: dùng thần thông đưa những người của dòng họ Thích giấu vào trong một chiếc bình bát để vua Tỳ Lưu Ly không tàn sát họ được. Nhưng kết quả thế nào thì chúng ta đã rõ.

4)       Một cuộc thử nghiệm để đời
Có một câu chuyện khiến chúng ta thấy Tôn giả thật gần gũi làm sao! Câu chuyện ấy làm chúng ta  hình dung một Tôn giả Mục Kiền Liên luôn sinh động, mạo hiểm và luôn tò mò thử nghiệm.
Trong tác phẩm "Muời vị Đại đệ tử của Đức Phật" do Hoà Thượng Tinh Vân biên soạn, ngài đã có những dòng mô tả rất thú vị về Tôn giả như sau:
"Trong giáo đoàn của đức Phật thì Mục Kiền Liên là người có nếp sống sinh động nhất. Việc gì không ai làm được thì tôn giả làm; nơi nào không ai đi tới được thì tôn giả đi tới"
(Chữ in nghiêng trích nguyên văn trong tác phẩm „Muời vị Đại đệ tử của Đức Phật“ – Tác giả HT Tinh Vân)


Có lần trong lúc đức Phật đang thuyết Pháp tại tu Viện Trúc Lâm, còn Tôn Giả thì đang tĩnh toạ tại thiền thất của mình. Dù thiền thất khá cách xa với giảng đường, Tôn giả vẫn nghe thật rõ pháp âm của Đức Phật. Ngạc nhiên và lạ lùng về điều này, tôn giả nảy sinh ý tưởng muốn thử nghiệm xem pháp âm của Phật có thể nghe được đến bao xa? Thế là ngài vận dụng thần thông đi ra khỏi thế giới Ta bà đến vài mươi ức độ Phật, tới quốc độ của đức Phật Thế Tự Tại Vương (Lokesvararaja) đang nói pháp.

Việc du hành đến các quốc độ khác, Tôn giả vẫn thường xuyên xử dụng thần thông để đến đi như một người lữ hành dạn dày kinh nghiệm. Nhưng lần này, Tôn giả đâu ngờ rằng, Đức Thế Tôn biết được tâm ý của ông nên đã dùng thần lực trợ thêm khiến Tôn giả mới đến được một quốc độ cực xa như vậy, xa hơn tất cả những quốc độ mà Tôn giả từng viếng.  Gặp lúc Đức Phật Thế Tự  Tại Vương đang nói pháp, Tôn giả mừng rỡ xiết bao, nhẹ nhàng tìm một chỗ trước Pháp toà, khẻ ngồi xuống nghe Pháp. Trong Pháp âm của Đức Phật Tự Tại Vương, Tôn Giả vẫn nhận ra âm thanh  của Đức Phật Thích Ca. Ắt hẳn trong lòng Tôn Giả đã  tràn dâng  một niềm tôn kính và đầy hãnh diện về thầy của mình: pháp âm của Như Lai vang xa tới vậy! Giờ chúng ta hãy hình dung xem, giữa một Pháp hội thật to lớn trang nghiêm hùng vĩ, bỗng ở đâu có một sinh vật bé xíu xiu xuất hiện, chắc không lớn hơn con sâu là bao. Sinh vật bé xíu xiu đó chính là Đức Mục Kiền Liên của chúng ta! Nguyên do là vì chúng sanh của cõi nước đó có thân thể to lớn gấp mấy trăm lần cho với chúng ta ở cõi Ta Bà này.  Do thế một vị Bồ Tát mới đứng lên thưa với Đức Phật Thế Tự Tại Vương rằng:
"Bạch Thế Tôn! Khi Thế Tôn đang nói pháp thì chẳng biết con vật kia từ đâu chạy vào đây, trông thật quái lạ. Để chúng con đuổi nó đi!
 Phật Thế Tự Tại Vương liền ngăn lại bảo: Ông đừng nói như vậy! Vị đó là Mục Kiền Liên, đệ tử thần thông bậc nhất của đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở thế giới Ta Bà"
(Chữ in nghiên trích nguyên văn trong tác phẩm "Thập Đại Đệ Tử" của Hoà Thượng Tinh Vân- Việt dịch Cư Sĩ Hạnh Cơ)

 

Sau khi nói rõ thân thế và khen ngợi Tôn Giả Mục Kiền Liên, Đức Phật Thế Tự Tại Vương còn khuyến khích Tôn giả hãy hiển lộ các thần thông để giải trừ mối nghi hoặc của các vị Bồ Tát nơi đây đối với Tôn Giả.
Lúc này, biết được mục đích của ông là muốn thử nghiệm xem pháp âm của Phật vang bao xa, Đức Phật Thế Tự Tại Vương đã nhắc nhở ông rằng, không nên lấy cái tâm phân biệt gần xa mà thí nghiệm pháp âm của chư Phật bởi vì pháp âm của Chư Phật đầy khắp cả hư không, hàng nhị thừa không thể nào thấu hiểu trọn vẹn được.
Hoà Thượng Tinh Văn viết lại rằng: "Nghe xong lới dạy của Đức Phật Thế Tự Tại Vương, tôn giả tự lấy làm hổ thẹn. Từ đó, trong tăng đoàn của đức Phật, tôn giả dù vẫn là người sinh động nhất, nhưng không còn dám dùng thần thông của mình để làm việc vô ích nữa".

Nhưng thật ra, việc làm này cũng đâu có hoàn toàn vô ích. Qua cuộc du hành có một không hai này, ông mới biết rằng lâu nay mình vẫn còn tâm phân biệt, mới nhận ra rằng pháp âm của Phật rộng cùng khắp không có giới hạn, không thể đo lường. Hơn thế nữa, có lẽ qua sự kiện này, Tôn giả nhận ra  dù được xem là bậc thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật thì thần thông của ngài vẫn có chỗ giới hạn. Bằng chứng là, sở dĩ Tôn giả đến được quốc độ cực xa của Đức Phật Thế Tự Tại Vương là nhờ thần lực của Đức Phật Thích Ca. Trong một số các tài liệu có ghi lại rằng, sau khi đãnh lễ từ biệt Đức Tự Tại Vương và hàng thánh chúng để quay về cõi ta bà, Tôn giả mới sực nhớ ra không biết làm sao để về lại được vì hai quốc độ cách nhau quá xa. Khi ấy Đức Phật Thế Tự Tại Vương mới ân cần chỉ bảo ông hãy khởi tâm tưởng cầu đến Đức Phật Thích Ca xin ngài dùng thần lực để đưa Tôn Giả quay về lại.


5.    Thần thông – phương tiện giáo hóa
Chúng ta đều biết Đức Phật không cho phép đệ tử của ngài xử dụng thần thông vì thần thông có thể giải quyết một số vấn đề cấp thời nhưng nó có thể khiến người xử dụng nó rơi vào chỗ sa đà và đi sai mục đích giải thoát ban đầu.  Nhưng khi tìm hiểu cuộc đời của Tôn giả Mục Kiền Liên, chúng ta lại thấy ngài  thường xuyên xử dụng thần thông. Một số tài liệu ghi rằng Tôn giả gần như là người duy nhất trong hàng Thánh chúng được Đức Phật cho phép xử dụng thần thông trong việc giáo hoá chúng sanh. Một số tài liệu khác lại ghi, tuy Đức Phật có nhắc nhở ông không nên dùng thần thông, nhưng vì muốn bảo vệ Tăng Đoàn trước những tấn công của hàng ngoại đạo, muốn dung hòa nội bộ, ổn định và gìn giữ kỷ luật giáo hội, muốn cảm hoá những chúng sanh mà chỉ có thể cảm hoá bằng phương tiện thần thông nên Tôn Giả đã nhiều lần xử dụng khả năng này.


Tha tâm thông
Có một lần, tại một buổi lễ Phát lồ, Đức Phật đã im lặng rất lâu trước đại chúng mặc dầu ngài A-Nan đã ba lần thưa thỉnh Đức Phật tuyên đọc giới bổn. Khi đó Đức Phật mới nói rằng: „Này A-Nan, hội chúng không được thanh tịnh!“. Nhiều phút trôi qua nhưng không ai lên tiếng là mình đã phạm lỗi theo đúng tinh thần phát lồ. Tôn Giả Mục Kiền Liên liền dùng Tha Tâm Thông quán sát đến toàn thể chúng Tỳ Kheo hiện diện và phát giác ra một vị đã phạm giới. Ngài đến trước vị Tỳ Kheo ấy, ôn tồn yêu cầu vị ấy rời khỏi đại chúng:
"Này Hiền Giả, hãy đứng dậy. Thế Tôn đã thấy ông. Đối với Hiền giả, không thể chung sống với các Tỳ kheo"
Sau ba lần nhắc như thế mà vị Tỳ Kheo này vẫn im lặng không nhúc nhích, Tôn giả Mục Kiền Liên liền dùng Đại thủ (bàn tay lớn) nhấc bổng vị này lên và đưa ra khỏi đạo tràng. Tôn giả nghĩ rằng, kẻ phạm giới đã bị đuổi ra ngoài, và thưa thỉnh với Đức Phật:
"Bạch Thế Tôn, người ấy đã bị con đuổi ra khỏi. Hội chúng đã thanh tịnh. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy thuyết giới bổn cho chúng Tỳ-kheo"

Nhưng đây là câu trả lời của Đức Phật:
"Này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy hành trì Uposatha (Bố-tát), hãy đọc giới bổn. Bắt đầu từ nay, này các Tỳ-kheo, ta sẽ không đọc giới bổn. Này các Tỳ-kheo, không có sự kiện, không có cơ hội rằng Như Lai có thể đọc giới bổn trong một hội chúng không thanh tịnh".

Câu chuyện trên được ghi lại trong kinh Tăng Chi Bộ- chương 8, phẩm "Ngày Trai giới"

Đoạn đối thoại này khiến chúng ta phải suy gẫm rất nhiều trong sinh hoạt của một đoàn thể. Khi một cá nhân trong đoàn thể đó yếu kém, phạm vào nội quy hay giới luật, chúng ta loại trừ người đó ra và nghĩ như vậy là xong, như thể là vừa cắt đi mội khối u ung thư và cơ thể sẽ lành mạnh. Nhưng Đức Phật, bằng một câu đáp rất nhẹ nhàng nhưng đầy sâu sắc đã nhắc nhở chúng ta rằng, các thành viên trong một đoàn thể có liên hệ mật thiết với nhau nên mọi thành viên cùng phải có trách nhiệm nhắc nhở và nâng đở nhau tu tập, gìn giữ phạm hạnh. Một cá nhân trong cộng đồng đó khi phạm lỗi lầm, không còn thanh tịnh, không có nghĩa là những thành viên còn lại vô can, không dính dấp và không có trách nhiệm.

Thiên nhĩ thông và Thiên nhãn thông

Tôn Giả Mục Kiền Liên có thể xử dụng Thiên nhĩ thông và Thiên nhãn thông để thấy Đức Phật đang ngụ tại một nơi cách xa thiền thất của Tôn giả hàng trăm dặm và nghe Đức Phật thuyết pháp như thể Tôn giả đang diện kiến trước Đức Phật vậy.

Trong kinh Tương ưng bộ, có phẩm đã ghi lại việc Tôn giả Mục Kiền Liên đã có thể nghe và thấy được nhiều cảnh giới của phi nhơn, chư thiên, ngạ quỷ và nhìn thấu những nhân quả và nghiệp thức của chúng sanh đó.
Có một lần, cả hai ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên cùng ngồi tĩnh toạ thì Tôn giả Mục Kiền Liên thấy một con quỷ Dạ-xoa (Yakkha) đã dùng toàn lực đánh lên đầu của ngài Xá Lợi Phất. Vì việc đó xảy ra quá nhanh, Tôn giả Mục Kiền Liên chỉ kịp mở mắt ra nên ngài liền hỏi Tôn giả Xá lợi Phất:
"Đạo huynh Sàriputta! Người bị quỷ Dạ-xoa đánh có đau không? "

Đại đức Sàriputta mỉm cười trả lời:
"Tôi chỉ cảm thấy có cái gì chạm nhẹ lên đầu". Sau đó, Mahà Moggallàna liền tán dương oai lực của tâm an trụ của Tôn giả Sàriputta. Còn Sàriputta thì khen ngợi Thiên nhãn của Mahà Moggallàna, vì chính mình không tài nào trông thấy được hung thần vừa tấn công mình hình dáng như thế nào. (Theo Kinh Udàna IV,4)
(Đoạn in nghiêng trích  nguyên văn từ tác phẩm „Cuộc đời của Tôn Giả Mục Kiền Liên- Tác giả  Hellmut Hecker 1923-2017, việt dịch Nguyễn Điều)


Di hành thông
Nhiều đoạn kinh đã mô tả rằng "dễ dàng và nhanh như việc co cánh tay lại hay duỗi cánh tay ra", Tôn Giả Mục Kiền Liên có thể khởi hành (với xác thân của mình) từ cõi người, rồi xuất hiện trên cõi trời trong khoảnh khắc, để vừa đi thuyết pháp cho thiên chúng ở các cõi trời rồi quay về trần gian để lo công việc của giáo hội.  Khi Đức Phật lên Cung trời Đao lợi để thuyết pháp cho Hoàng Hậu Ma Da suốt 3 tháng, chính Tôn Giả Mục Kiền Liên là người duy nhất đã lên cõi trời để trình lên Đức Phật mọi tin tức của Giáo hội ở thế gian và xin chỉ chị của ngài.
Phổ lực thông

Tôn giả Mục Kiền Liên còn có khả năng lay chuyển hay di dời những vật chất dù có trọng lượng to lớn hay cấu lực vững chắc tới đâu. Lúc bấy giờ, tại Ấn độ cũng có rất nhiều đaọ sĩ thuộc hàng ngoại đạo tu tập đắc  được  thần thông và cho rằng mình đã đạt tới cảnh giởi giải thoát nhưng trên thực thế, họ chưa thể ra khỏi vòng sinh tử luân hồi. Để hoá độ cho những người đạo sĩ như thế, Đức Phật đã cho phép Tôn Giả Mục Kiền Liên tuỳ căn cơ mà hiển lộ thần thông để họ quy phục về với pháp tu chân chánh. Trong lần đó ngài đã dùng thần lực dời một ngọn núi biến mất mà những vị Đạo sĩ kia dù rất đông hợp lại cũng không đủ lực để dời đi tảng núi này. Lúc bấy giờ, biết Tôn giả là đệ tử của Đức Phật, họ đã xin quy y trở thành môn đồ của Đức Phật.

Một lần khác, khi ngài Xá Lợi Phất bị bệnh, Tôn Giả Mục Kiền Liên đã dùng thần thông để lấy cuống sen trên đỉnh núi Hy Mã Lạp Sơn để về làm thuốc cho vị đạo huynh của mình. Trong một đoạn kinh khác, Tôn giả Mục Kiền Liên trong chốc lác đã lấy về một nhánh cây Bồ đề cách xa hàng trăm dặm cho Trưởng giả Cấp Cô Độc trồng trong khuôn viên Kỳ Viên tự.


6)     Thánh Tử Đạo
Với bản chất năng động của một con người nghĩa khí nhưng cũng đầy quyết liệt trong thái độ, Tôn giả Mục Kiền Liên đã có không ít kẻ thù từ phía các ngoại đạo. Khi cần thiết, để bảo vệ cho chân lý, cho Tăng Đoàn, Tôn giả không ngần ngại bày tỏ quan điểm của mình. Trăm sông rồi cũng đổ về biển, đó là một quy luật tự nhiên. Hình ảnh đó ví như với nhân cách vĩ đại của Đức Phật, với phẩm chất thanh tịnh, hoà hợp và cao quý của Tăng đoàn, thì đoàn thể ấy tất nhiên sẽ như biển cả để biết bao nhiêu kẽ quy thuận quay về. Thế nhưng hiện tượng các môn đồ của ngoại đạo càng ngày càng quy về với Đức Thế tôn làm họ vừa lo sợ vừa tức giận và người mà họ nhắm đến để trả thù chính là Tôn Giả Mục Kiền Liên.

Trong tác phẩm "Cuộc đời của Tôn Giả Mục Kiền Liên", Hellmut Hecker đã viết:
Tôn Giả Mục Kiền đã chấm dứt cuộc đời một cách rất đáng thương, rất cảm động (nếu không muốn nói là ghê rợn). Và chỉ có những bậc Thánh nhơn từ tâm tròn đủ như ngài mới có thể viên tịch bằng một cái chết thảm khốc như thế.


Điều này cho thấy rằng, không phải Tôn giả bất ngờ bị bọn ngoại đạo mai phục tấn công bằng cách lăn đá từ trên núi xuống mà ngài đã rất ý thức được nghiệp quả của mình. Trong nhiều kinh điển khác, cái chết của Tôn Giả được ghi chép lại một cánh tỉ mỉ và đã được Hellmut Hecker mô tả lại trong tác phẩm của mình như sau:
"Nhiều sư trưởng đạo Lõa thể còn nghe đồn rằng: Đại đức Mahà Moggallàna (Mục Kiền Liên), sau những chuyến Thiên du (lên trời thuyết pháp rồi trở về) đã tiết lộ rằng: Hầu hết tín đồ Phật giáo đều được sanh lên cõi trên, nhưng rất hiếm những kẻ tu theo đạo khác được hưởng hạnh phúc ấy. Trái lại, họ còn bị đọa vào cảnh khổ và tái sanh thành nhiều sinh vật thấp hơn loài người. Đây có lẽ là tin đồn thất thiệt, nhưng là một trong những lý do khiến cho các đạo khác, kể cả đạo Lõa thể (Ni-kiền giáo) bị sút giảm hậu thuẫn. Đặc biệt, một chi giáo cuồng tín của đạo Lõa thể ở vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha) đã trở nên giận dữ trước sự mất danh tiếng càng lúc càng trầm trọng ấy, nên họ chủ tâm tiêu diệt Đại đức Mahà Moggallàna.


Những đạo sĩ cuồng tín Ni-kiền giáo ấy không chịu điều tra rõ nguyên nhân suy đồi của môn phái mình. Họ chỉ biết âm mưu phỉ báng và trút hết lên đầu Đại đức Mahà Moggallàna. Nhiều lần họ mưu tâm ám sát vị Thánh Tăng ấy nữa nhưng đều thất bại. Về sau, họ phải mướn bọn cướp làm việc đó.
Thuở bấy giờ cũng có bọn chuyên đâm thuê chém mướn, sẵn sàng sát nhân, nếu được trả nhiều tiền như ngày nay. Họ là những kẻ vô cùng tham lam và hung bạo. Đối với họ chỉ có tiền là “cao quý” nhất, nên họ bất chấp việc giết người nào, dù cho nạn nhân là một vị Thánh Tăng! Do đó, một số đạo sĩ cuồng tín Ni-kiền giáo (đạo Lõa thể) liền tìm mướn họ đi giết Đại đức Mahà Moggallàna.


Khi ấy, Mahà Moggallàna đang ẩn tu một mình trong tịnh cốc vắng, ven rừng Kalasika (thuộc vương quốc Ma-kiệt-đà. Sau khi đã cảm thắng Ma vương, Mahà Moggallàna biết rằng “đoạn chót của đời mình” sắp đến. Một vị Thánh Tăng khi đã được hưởng “hương vị” giải thoát hằng thấy rằng “xác thân phàm tục này chỉ là một chướng ngại hay một gánh nặng mà thôi!".


Do đó, Mahà Moggallàna đã không một chút mảy may nghĩ đến việc dùng thần thông để được sống trường thọ. Ngược lại, khi Maha (Mog-gallana thấy bọn cướp giết mướn lại gần, ngài chỉ nghĩ "Ta không nỡ để cho các kẻ ấy phạm trọng tội!". Thế là toàn thân ngài tự nhiên biến mất (do thần thông của một Tôn túc A-la-hán đầy lòng từ bi phát tác, chứ không phải do sự sợ sệt hay lòng tham sống mà ra).


Bọn sát nhân (có sách gọi là bọn cướp) xông vào tịnh cốc, không tìm thấy một ai, chúng lục lạo khắp nơi, nhưng vẫn vô hiệu, bèn thất vọng ra về. Ngày hôm sau, chúng trở lại, và cũng rơi vào tình trạng như cũ. Nghĩa là từ xa chúng thấy Đại đức Mahà Moggallàna thấp thoáng, nhưng khi đến gần, chẳng tìm ra Đại đức đâu cả, mặc dù càng lúc chúng càng kéo đồng bọn đông hơn và lục soát kỹ hơn. Chúng cũng khôn ngoan cho bộ hạ mai phục, rình rập xung quanh tịnh cốc để phát giác sự xuất hiện của Đại đức Mahà Moggallàna, rồi vẫn không có kết quả. Sáu ngày liên tiếp như thế, sáu lần bọn cướp xông vào hãm hại Mahà Moggallàna, và sáu lần Mahà Moggallàna vì lòng từ bi, chỉ một niệm "không muốn kẻ ngu muội phạm trọng tội" thân thể ngài đã biến mất một cách như nhau.

Động lực của thần thông vốn không phải là để bảo vệ xác thân ô trược này, mà để cứu độ những tâm hồn hung bạo. Nhưng tiếc thay thần thông ấy của một vị đại Tôn túc A-la-hán đã không cảnh tỉnh được bọn người tội lỗi, nên qua ngày thứ bảy, Đại đức Mahà Moggallàna đã quán xét bằng Tha tâm thông, thấy rằng "bọn cướp vì tham tiền quá độ sẽ không bao giờ từ bỏ hành động sát nhân ấy".


Trong khi Đại đức Mahà Moggallàna sử dụng Tha tâm thông như thế, thì “Di thần” thần công của ngài tự nhiên biến mất, xác thịt ngài bất thần hiện lại như cũ, ngồi yên trong tịnh cốc.


Thì ra ác quả một hành động tội lỗi xa xưa (khi tiền kiếp nọ, Mahà Moggallàna vì sợ vợ, đã nhu nhược đem cha mẹ bỏ vào rừng hoang, đói khát cho đến chết) nay ác quả đang đuổi kịp. Đại đức Mahà Moggallàna phải trả xong ác quả ấy thì công hạnh mới hoàn toàn! Giống như Đức Phật và Sàriputta, trước khi nhập Niết-bàn đã trải qua một cơn bệnh vậy!


Bọn sát nhân tiến vào tịnh cốc thấy vị Thánh Tăng hiền hòa ngồi đó, liền đâm chết rồi muốn chắc ăn chúng bầm nát tay chân, biến người thành một khối thịt vụn bất động.
Khi biết chắc nạn nhân chỉ còn là một thây ma, không cách nào sống lại, và phe mình sắp được lãnh tiền trả công, bọn sát nhân ung dung bỏ đi không thèm quay lại.

Nhưng Đại đức Mahà Moggallàna là một Thánh Tăng đại Tôn túc thần thông, người không thể nhập Niết-bàn trong tình trạng như thế. Mahà Moggallàna trong khi bị đâm chém đã hoàn toàn nhập định, nên mọi đau đớn không chi phối được ngài. Bây giờ, ngài chỉ vận dụng thiền lực tập trung sức mạnh tinh thần điều hợp với thể chất, rồi tái hiện thành một Sa-môn như cũ. Mahà Moggallàna cố gắng đem tấm xương thịt đầy thương tích đến yết kiến Đức Phật lần chót. Khi hiện diện trước mặt Phật, ngài từ từ quỳ xuống, đảnh lễ đức Thiên Nhơn Sư, rồi ngồi yên, nhắm mắt lìa đời, biến địa điểm gặp gỡ lần cuối của ngài và Đức Phật thành một khung cảnh vô cùng ảm đạm và Thánh thiện. (Theo Jàtaka 522E)


Tư cách từ bi đối với những kẻ ác tìm kiếm hạ sát mình, và phẩm hạnh giải thoát mà vị Thánh Tăng này đã đạt được từ khi ngài chứng bậc A-la-hán quả thật đã không rời ngài cho đến phút chót. Phẩm hạnh ấy đã gói trọn bảy ngày sống sau cùng của Mahà Moggallàna. Bảy ngày quá khắc nghiệt của định luật nhân quả và tràn trề lòng Từ bi của một bậc Thánh. Một khoảng thời gian tàn khốc của kiếp sống đầy đe dọa, chỉ có những bậc đã dứt trừ phiền não và không còn dục vọng mới có thể trải qua một cách dễ dàng! Nghiệp tạo tác trong quá khứ phải trổ quả trong hiện tại là một điều tự nhiên. Người phàm hay Thánh nhơn chỉ khác nhau ở cách đón nhận cái quả ấy. Nếu phàm tục đón nhận hậu quả một cách si mê thì Thánh nhơn nhìn thấy hậu quả một cách sáng suốt thanh tịnh"

(Đoạn chữ in nghiêng là phần trích nguyên văn trong tác phẩm „Cuộc đời của Tôn Giả Mục Kiền Liên“ - Tác giả Hellmut Hecker, Việt dịch Nguyễn Điều)

Tôn giả Mục Kiền Liên của chúng ta đã viên tịch một cách hùng tráng như thế!

Giờ đây, nhân mùa Vu Lan lại về,

chúng con, toàn thể những Phật tử thành kính:
– Đảnh lễ Phật Bảo, Ngài là bậc Toàn tri Diệu giác, vô lượng từ bi, đã tìm ra con đường giải thoát.
– Đảnh lễ Pháp Bảo, là những lời vàng ngọc, có hiệu năng cứu độ chúng sanh.
– Đảnh lễ Tăng Bảo, những bậc gương mẫu, sống đời sống thanh tịnh trong hàng tứ chúng.
 “Thành kính đảnh lễ đức Mục-kiền-liên (Mahà Moggallàna), một đại Sa-môn, một đại đệ tử Phật, đã sống đời sống Phạm hạnh, có khả năng chỉ trong nháy mắt, thấy rõ muôn vạn chiều vũ trụ, là bậc Thượng thừa của các loại Thần thông, có thể nhìn xuyên qua dòng thời gian biết hết từ vòng sanh diệt trong các cõi trời” (Theràgàthà 1181- Tôn Túc Kệ Ngôn, câu 1181)


Nguồn tham khảo và trích dẫn:
https://www.phatan.org/a3111/cuoc-doi-ton-gia-muc-kien-lien
(Cuộc đời của Tôn Giả Mục Kiền Liên- Tác giả Hellmut Hecker (1923-2017)- Việt dịch Nguyễn Điều
https://thuvienhoasen.org/p53a10415/02-ton-gia-muc-kien-lien
(Muời vị Đại đệ tử của Đức Phật – Hoà Thượng Tinh Vân- Việt dịch Cư sĩ Hạnh Cơ)
https://thuvienhoasen.org/images/file/IsHYhp1G0QgQAHB1/tang-chi-bo-kinh.pdf
(kinh Tăng Chi Bộ - Việt dịch Hoà Thượng Thích Minh Châu)
Tác phẩm „Đường xưa mây trắng“ - Thiền Sư Thích Nhất Hạnh

Htr. Nguyên Trí

 
 

Góc sinh hoạt

  • Photo Title 1
  • Photo Title 2
  • Photo Title 3
  • Photo Title 4
  • Photo Title 5